WELCOME TO
  CAO ÐÀI GIÁO trong TAM KỲ PHỔ ÐỘ 
         Đạo Cao-Đài : The new religion of God in the Third Universal Amnesty 
                                  Cao-Đài-Religion : Die neue Religion Gottes in der Dritten Phase der Errettung, Amnestie und Erlösung                                          
                               

 

                                                                                                  



Dẫn nhập

Nền văn minh Việt Nam có đặc điểm là tiếp thu các nền văn minh khác, du nhập vào rồi dân tộc hóa thành thứ riêng của mình. Về Tôn giáo ở nước Việt Nam, nhất là tại Miền Nam, nơi xuất hiện nhiều Tôn giáo có tính cách địa phương và có những sắc thái dân tộc như Cao Ðài Giáo và nhiều Chi Phái của Cao Ðài Giáo như Hội Thánh Tiền Giang, Hội Thánh Hậu Giang, Phái Chiếu Minh Vô Vi Tam Thanh, Hội Thánh Tân Chiếu Minh vv..., còn Phật giáo thì có Phật giáo Hòa Hảo, Phật giáo Bửu Sơn Kỳ Hương, Phật Giáo Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Đạo Thờ Cúng Ông Bà  vv...Đạo Cao Ðài là ? Ðàn cơ là gì ? Ðây có phải là một Tôn giáo mới hay là một Chi Phái của Tôn giáo có trước? Sự thành lập Hội Thánh nầy như thế nào ? Triết lý của Tôn giáo nầy và tín ngưỡng của đạo hữu như thế nào ? Cách thờ phượng và nghi lễ ra sao ? Ý nghĩa chữ CAO-ĐÀI là gì? Người nước khác dịch chữ CAO ĐÀI thế nào? Đề nghi nào hợp lý?

Ðể giải đáp những thắc mắc trên cho người Việt Nam chưa biết về Đạo Cao Đài và hiện nay cho người thuộc các dân tộc khác có sự tò mò đặc biệt là muốn biết về Tôn giáo mới nầy khi du lịch thăm Tòa Thánh Tây Ninh, một địa điểm hấp dẫn cho việc tham quan nghiên cứu. Khi người ta đứng trước cửa Tòa Thánh thì thấy trên vách có hình Tam Thánh và người ta nghĩ rằng Đạo Cao Đài thờ chư vị Tiên tri, văn sĩ và chính trị gia thế giới và gây sự hiểu lầm lớn. Khi đi vào Tòa Thánh thì thấy quả Càn Khôn và Thiên Nhãn thì người ta hỏi nhiều thứ mà không có đủ người để giải đáp thỏa đáng bằng ngoại ngữ. Muốn hiểu hay đi vào sự thật người ta cần phải điều tra và nghiên cứu theo tinh thần khoa học nhân văn. Ở đây, đối tượng nghiên cứu mang một tính chất đặc biệt vì nó chứa đựng các vấn đề thuộc phạm vi Hình nhi thượng học, vượt ngoài phạm vi quan sát của khoa học thực nghiệm, khoa học thiên nhiên như : Vấn đề hồn ma nhập xác cho nên người ta sợ và nghi ngờ cả cơ bút vì chưa biết huyền diệu của cơ bút, người ta nghĩ rằng tư tưởng những người chết biến thành làn sóng điện và làn sóng tư tưởng hay điển thiêng biến thành từ lực tác động cơ chạy, sự liên quan giữa phương pháp thông linh giữa Đạo Cao Đài và cách liên lạc với cõi vô hình của các Hội Thần Linh trên thế giới nhờ đó, điển thiêng của chư Thần, Thánh,Tiên, Phật, Chúa Giê-su và nhất là của Ðức Thượng Ðế tác dụng vào cơ bút hay vào tay người đồng tử để viết ra chữ vv... Những hiện tượng huyền bí nầy, khoa học cho rằng có tính cách bất khả tri và cũng vì người ta không thấu triệt được các vấn đề và các hiện tương siêu nhiên nầy mà người ta gán cho Tôn giáo là huyền thoại, thiếu tinh thần khoa học như họ hiểu lầm.

Ðể tránh những thiên kiến trên, người ta phải có thái độ nào khi nghiên cứu một Tôn giáo ? "Một thái độ tìm hiểu Tôn giáo phải là một thái độ hoà hợp truy diễn để ý hội hơn là lý luận, qui điều để thẩm định. Với điều kiện tất yếu đó, người ta mới có thể hiểu Tôn giáo theo đúng ý hướng của Tôn giáo" (2)

Nhân xét trên đây đúng với luật đồng thanh tương ứng của triết học Ðông phương, vì quan sát và thực nghiệm theo khoa học xã hội người ta chưa hiểu được Tôn giáo một cách toàn diện. Người ta còn phải hiểu Tôn giáo bằng suy tư của nội tâm nữa. Tôn giáo hình thành không phải bằng hình thức lễ nghi, phù pháp, tín điều mà kinh nghiệm từ nội dung sâu xa của triết lý Tôn giáo; trong đó, phổ độ cả bí pháp lẫn công truyền (3). Triết lý Tôn giáo ở phần công truyền phổ quát bằng tín điều và chân lý thực tiển, còn bí pháp (4) là phần dành cho người có khả năng thấu triệt được huyền vi để thực hành Ðạo pháp (5) hầu có thể tiến bước trên con đường hiệp nhứt cùng với Thượng Ðế, vì "một Tôn giáo trong ý nghĩ căn bản của nó là con đường tiến hóa, một lối đi, một cách tiến của tinh thần để tới chỗ hoàn hảo, toàn giác, qui hồi trở lại với bản thể của Thượng Ðế ( phản bổn hoàn nguyên). Mặt khác, nếu người ta vẫn quan niệm Tôn giáo phải gắn liền với những tính cách thiêng liêng mầu nhiệm thể hiện trong những hình thức nghi lễ như rửa tội, ban phép lành mà không tìm ý nghĩa khoa học tiềm ẩn của nó, thì người ta lại vô tình dẫn đưa Tôn giáo tới chỗ huyền thoại" (1) Thật ra, trong Tôn giáo đã tiềm ẩn khoa học, mà Phật giáo, có thể nói là một khoa học tiềm ẩn dưới hình thức Tôn giáo. Thật vậy, Phật đã bảo: trong một giọt nước có cả triệu sinh linh, thì khoa học đã tìm ra hằng triệu sinh vật nhỏ mà mắt thường không thể thấy, đó là vi trùng ! Và Phật còn bảo : một hạt bụi là cả một thế giới, thì khoa học đã tìm ra nguyên tử. Cách cấu tạo của nguyên tử cũng giống như hình thể của Thái Dương Hệ : một hạch tâm và các điện tử quay quanh một hạt nhân vi tiểu cũng giống như các hành tinh quay quanh mặt trời vậy.

"Tôn giáo với tính cách mặc khải của Thượng Ðế và mặc dầu với tính cách đa phức của nó, vẫn là một nguồn cội duy nhất có thể cung hiến cho con người một ý niệm đại khái về chân lý"(2). Do đó phương pháp nghiên cứu khoa học nhân văn áp dụng vào đối tượng Tôn giáo có tính cách tế nhị vì các sự kiện khó có thể khảo sát bằng tri thức thuần lý được.

Ngoài việc lấy tâm mà hiểu, lấy trí mà xét, việc nghiên cứu Tôn giáo còn bắt buộc người khảo cứu phải đi sát Tôn giáo đó trong điều kiện thiết yếu là phải gạt bỏ tất cả những thiên kiến của mình, thoát khỏi những điều kiện về văn hoá, chính trị và nhất là Tôn giáo mình hiện theo, nghĩa là phải nhân danh một lòng tin căn bản, nhưng phổ quát và một khả năng phán đoán hoàn toàn vô tư và khách quan, hơn nữa khi viết sử Đạo hay viết Luận án Tiến sĩ như một số sinh viên nước ngoài khi chưa thông tiếng Hán Việt và một số sinh viên học dưới chế độ cộng sản  như Liên Xô hay người Việt Nam ở tại  trong nước mà vẫn còn theo chủ nghĩa xã hội theo lý thuyết Mác-Lê nặng về vô thần và không có tự do tín ngưỡng thì sách dù có xuất bản hay luận án được chấm đậu thì những tài liệu nầy thiếu khách quan, mà thiếu khách quan thì không còn là sử liệu thật nữa, điều mà trong nội dung sẽ bàn đến cơ bút giả, cơ bút thật hay những sự thật bị dấu kín và những danh từ tiếng Việt mới xuất hiện của hai nền văn hóa Việt Nam tại quốc nội cò bó trong ý thức hệ và ở hải ngoại với sự tự do và khai phóng sau khi nước Việt Nam bị chia đôi 30 năm.

Với ý hướng đó, đề tài "Đạo Cao Đài trong Tam Kỳ Phổ Độ" là một đối tượng thuộc Đạo Sử và Nhân Chủng Tôn giáo học thuộc Khoa Học Nhân Văn có tính cách đa diện mà phần trình bày là một sự phân tích trong một cái tổng hợp, vì : nước Việt Nam có nền văn minh tổng hợp mang một sắc thái riêng biệt, nơi đây từ bao thế kỷ nay đã thành hình một nền văn hoá dung nạp tinh hoa thế giới để biến thành cái sở hữu riêng biệt cho mình.

Về tín ngưỡng, người Việt Nam là một giống dân có tinh thần đạo đức còn giữ được khá trọn vẹn, có đức tánh khoan hoà, hiếu khách, dễ dàng du nhập tinh hoa thế giới đồng thời có tinh thần khai sáng, dù bị ảnh hưởng của xã hội, nhưng đặc tính " Nhơn chi sơ tánh bản thiện" vẫn còn tiềm tàng trong tiềm thức của mỗi người già  để làm sự thức tỉnh cho tuổi trẻ khi họ biết quay về nguồn cội.

Ngoài các Tôn giáo ở Ðông phương như Nho, Thích, Lão và từ Tây phương là Thiên Chúa giáo du nhập vào Việt Nam, nơi dây còn có Ðạo Thờ Cúng Tổ Tiên, Đạo tuy không tên đặt, nhưng mỗi nhà đều có Bàn Thờ Ông Thiên tức tín ngưỡng không qua tôn giáo gọi là Đạo Thờ Ông Trời và sau nầy còn khai sanh thêm các Chi Phái Phật Giáo mới tại Việt Nam như Phật giáo Bửu Sơn Kỳ Hương, Phật giáo Tứ Ân, Phật Giáo Hòa Hảo và Tôn Giáo mới như Cao Ðài giáo với 12 Chi Phái chính cho đến gần 24 Chi Phái ở khắp nơi tại Miền Nam các Phái Thiền xuất phát từ trong nước Viêt Nam cả những Phái thiền xuất phát từ nước ngoài do người Việt Nam ở hải ngoại và đem vào cả Việt nam để bị cấm trực tiếp   ...Trong số các Tôn giáo mới ở Việt Nam, từ một gốc còn chia ra nhiều Chi Phái khác nữa. Sự phân chia nầy không do Thiên ý mà chính là ở tinh thần đa diện của nền văn minh Việt Nam.

Các Tôn giáo tuy có khác nhau ở chỗ lập giáo và hành đạo, nhưng chân lý vẫn là một, nên vẫn dung nạp với nhau được. Ðó là đặc sắc của Tôn giáo Á Ðông, đúng với câu :"Thiên hạ đồng qui nhi thù đồ, nhất trí nhi bách lự" ( Thiên hạ tuy ở nhiều đường khác nhau, nhưng cùng về một chỗ, trăm lo, nhưng về một mối   -  Khổng Tử, Thiên Hệ Từ).

Các Tôn giáo ở Việt Nam nói chung, chịu ảnh hưởng của triết lý Tam Giáo mà học giả Trần trọng Kim có nhận xét như sau:

"Nho giáo, Ðạo giáo và Phật giáo là ba cái nguồn gốc văn hóa của dân tộc Việt Nam từ xưa. Nho giáo dạy ta biết cách sử kỷ tiếp vật, khiến ta biết đường ăn ở cho phải Ðạo làm người. Ðạo giáo lấy Ðạo làm chủ tể cả Vũ Trụ và dạy ta nên lấy thanh tĩnh vô vi nơi yên lặng. Phật giáo dạy ta biết cuộc đời là khổ não, đưa ta vào con đường giải thoát, ra ngoài cuộc ảo hóa điên đảo mà vào chỗ niết bàn yên vui. Ba học thuyết ấy thành ra ba Tôn giáo, người ta thường gọi là Tam Giáo, đều có ảnh hưởng rất sâu về đường tin tưởng và hành vi trong cuộc sinh hoạt của ta ngày xưa. Ðến nay, cuộc đời thay đổi, người ta khuynh hướng về mặt vật chất, bỏ rẻ những điều đạo lý, nhân nghĩa. Ðó là cái biểu tượng của sự tiến hóa trong cuộc đời.

Ðời là biến hóa, không có gì là thường định. Mỗi cuộc biến hóa lại giống một cái vòng trong cái dây xúc xích, rồi vòng nọ tiếp giáp vòng kia, thành cái dây dài không biết đâu là cùng tận.

Sự biến hóa tuần hoàn ấy, kể thực ra không có là gì là chuẩn đích nhất định, chẳng qua là nó theo thời gian mà luân chuyển. Cái trước ta cho là tốt , thì bây giờ ta cho là xấu, cái bây giờ ta cho là hay, sau nầy người ta cho là dở. Dở dở, hay hay, vô thường, vô định thành ra như cái trò quỉ thuật làm cho người ta mê hoặc. Các bậc Thánh Hiền đời trước biết rõ những điều ấy, muốn tìm ra một con đường mà đi trong đám tối tăm mờ mịt, nên mới lập ra học thuyết nọ, Tôn giáo kia, để đưa người ta đi cho khỏi mắc phải chông gai nguy hiểm. Nho giáo, Ðạo giáo và Phật giáo đều có một quan niệm như thế cả. Song mỗi học thuyết có một tông chỉ và một phương pháp riêng để học Ðạo, tu thân, cho nên cách luận lý, cách lập giáo và sự hành Ðạo có nhiều chỗ khác nhau"(1).

Tuy có nhiều chỗ khác nhau, nhưng tất cả các tôn giáo Nho, Thích, Lão và Thiên Chúa giáo vẫn có thể tổng hợp được và Cao Ðài Giáo là một tổng hợp Tôn giáo trên phương diện văn hóa, nhưng thực tế, sự tổng hợp nầy không những do loài người làm mà còn có chính do Ðức Thượng Ðế "Qui nguyên Tam Giáo và hiệp nhứt ngũ chi", phần này sẽ được giải thích ở các chương sau.

Từ sự tổng hợp, Cao Ðài giáo trong mấy mươi năm phổ độ có khuynh hướng phân tích để khai mở nhiều Hội Thánh, nhiều Chi Phái... và sau hết, Hội Thánh Di Lạc tại Vĩnh Long lại tổng hợp để qui nguyên thống nhất. Sự tổng hợp nầy xét về phương diện xã hội và văn hóa thì có tính cách đồng qui do nhân ý. Nhưng xét theo tài liệu cơ bút do các Ðấng Thiêng Liêng giáng dạy gần đây, thì sự qui nguyên nầy có tính cách mặc khải do Thiên ý. Nhân ý hay Thiên ý, điều nầy người ta khó có thể phán định được. Tuy nhiên, những lời trong cơ bút cho biết rằng Thiên cơ là một Chương trình vĩ đại ( gọi là Thiên cơ vì các biến chuyển của chiến tranh, văn hóa, tôn giáo... do sự sắp xếp của các Ðấng Thiêng Liêng) mà con người phải dùng chẳng những bằng trí mà còn phải bằng tâm mới lãnh hội được ( Tâm lý học gọi là trực giác, Phật giáo gọi là Bồ Ðề Tâm, mở Thần Nhãn, ngộ đắc Thiên cơ vv...).

Từ khi lập quốc về sau đến năm 1974 nước Việt Nam đã trải qua nhiều chế độ như Quân chủ, Quân chủ lập hiến hay Dân chủ rồi đến độc tài, thì xét theo lịch sử mà ngày xưa vua được xem như là Thiên Tử, là Con của Trời thay mặt Đức Thượng Đế cai trị dân, Vua lúc nào cũng tín ngưỡng Trời , Phật và chư tăng như những bậc Quân sư mà triều đại nào lo cho Đạo thì nước hưng thịnh về văn hóa thuộc tôn giáo, cho đến Triều Nguyễn thì Vua có tổ chức Đại Lễ để cúng Trời gọi là Đàn Nam Giao mà khi Đạo Cao Đài được khai mở, chư vị tu Tánh luyện Mạng trong Phái Chiếu Minh Tam Thanh Vô Vi cũng có Đàn lễ, Đàn cơ liên lạc với ông THẦY TRỜI để trình bạch lên Đức Chí Tôn hoặc được Đức Thượng Đế Cao Đài dạy chi tiết cách công phu. Nhưng Đạo của Ông Trời cũng bị người phàm ngăn không cho phát triển vì họ nghĩ theo tinh thần tự do vô tôn giáo của họ và làm cho nền Đạo bị ngưng hoạt động theo Thánh Ý, để chính quyền đi vào kiểm soát chặt chẽ do Mặt Trận Tổ Quốc và Đảng lãnh đạo. Các sử gia muốn viết Đạo sử phải ra nước ngoài viết mới trung thực vá mới được phép phổ biến.
Riêng đối với các học giả người nước ngoài đọc sử Đạo do người Pháp viết mà người Pháp đặt tên cho Đạo Cao Đài với danh từ Le CaoDaisme, rồi chính vị chức sắc Thiên phong người Pháp cũng gọi Đạo Cao Đài với danh từ là Néo-Boudhisme, hay Tân Phật giáo cũng như khi viết về một tôn giáo mà có Quân Đội thì  người Pháp coi tôn giáo mới như Chi Phái Chính Trị, bởi sự hiểu lầm, chưa biết nguyên do tại sao tôn giáo mà có lực lượng quân đội, nên sách Đức dục của Bộ Giáo dục Đức Quốc làm mất lòng tin kính đối với Bề Trên mà theo họ là Đức Chúa Trời. Trong phần nguyên nhân thành lập Lực Luợng Cao-Đài sẽ giải thích để người nước khác hiểu, nhờ đó họ mới có đức tin đối với Đức Thượng Đế, ví các tôn giáo trước không có giải thích rõ hệ thống giáo dục của Đức Chí Tôn Thượng Đế.

Với tài liệu cơ bút trong Cao Ðài giáo cùng các sự kiện sống động do các biến chuyển xảy ra trong cộng đồng sinh hoạt của đối tượng ; với kỹ thuật quan sát, điều tra xã hội để nghiên cứu thực tại, phần trình bày sau đây sẽ giới thiệu một cách đại cương đề tài nghiên cứu, dĩ nhiên không sao tránh khỏi những điều thiếu sót. Nội dung cuốn sách nầy sẽ được diễn luận các vấn đề thuộc phạm vi nhân văn của đối tượng nghiên cứu như như lịch sử, triết lý, văn minh, xã hội, tâm lý, tín ngưỡng  vv...từ khi khai nguyên nền Đạo đến nay gồm những phần như :

·         Nguồn gốc các tôn giáo

·         Sự chuẩn bị lâu dài của việc Khai Đạo

·         Triết lý về Ðại Hội Long Hoa qua các Tôn giáo

·         Triết lý và tín ngưỡng

·         Sự Tổ chức và nền Dân chủ từ Thiêng Liêng Vô Vi Đại Đạo đến Thế Đạo hữu hình.

·         Chương trình quảng bá và hoằng hóa Đại Đạo

·         nh hưởng của Đạo Cao Đài đối với xã hội Việt Nam nói riêng và đối với sự tiến hoá của nhân loại nói chung.

Mong rằng công trình nghiên cứu nầy sẽ đóng góp một phần nhỏ mọn trong việc tìm hiểu một Tôn giáo mới đã và đang phát triển tại miền Nam Việt Nam. Đạo Cao Đài đã ở trong Cơ Đạo mà giai đoạn Khai Đạo thì phát khởi ra 12 Chi Phái, còn thêm nhiều Chi Phái khác theo chu trình "Nhất bổn tán Vạn Thù" để hợp với trình độ và sở thích của chúng sanh, sau cùng thì Qui Nguyên thống nhất hay từ " Vạn thù qui nhất bổn" .

Hiện nay nhân loại đang ở vào thời kỳ đấu tranh tàn sát lẫn nhau, đạo đức suy tàn do loài người ham mê vật chất của nền văn minh cơ khí, kỹ thuật cao và do đa tôn giáo tìm cách huỷ diệt nhau trong khi nhân loại tìm một chánh pháp hay một tôn giáo do chính ông Trời khai mở với một triết lý huyền diệu và chân lý bất biến hay con đường duy nhất để giải thoát khỏi biển trần khổ vơi vơi trời nước. Một điều quan trọng hơn hết là nhân loại đã thấy ánh sáng đi từ phương Đông sang Tây cho nên người Tây phương đang tìm về phương Đông để tìm học Đại Đạo và cựu pháp như Yoga, thiền, Zen... nhưng chưa biết bửu pháp để tự giải thoát luân hồi sanh tử trong một kiếp hiện tại, đắc Thánh, Tiên, Phật như chư Giáo Tổ xưa đã đắc Đạo mà trên 2.548 năm loài người đã cố gắng cả đời mà không ai đắc tại thế cả, duy có một vị mà vị đó là vị nào sẽ được trình bày trong quyển sách nầy. Đây là sự tò mò kế tiếp để chư vị nguyên nhơn có cơ duyên thọ được bửu pháp mà tu luyện và chư vị hóa nhơn gặp được con dường về Đại Đạo.

 Peter Hà Phước Thảo


                                                                                                                


Copyrights © Peter Ha ( Hà Phước Thảo )
updated: 15.2.2006
haphuocthao@hotmail.com



            Mục lục  






.